Đ
Đăng Kiên
Guest
Vai trò đặc biệt quan trọng
Tại Hội thảo “Giải pháp thiết lập và quản lý hiệu quả các khu bảo tồn biển Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2050” tổ chức mới đây tại Khánh Hòa, Cục Thủy sản và Kiểm ngư đã công bố báo cáo đánh giá kết quả thực hiện quy hoạch khu bảo tồn biển Việt Nam đến năm 2025 và kế hoạch triển khai giai đoạn 2026 – 2030.
Theo báo cáo, mục tiêu quy hoạch hệ thống khu bảo tồn biển Việt Nam đến năm 2030 gồm 11 khu bảo tồn biển cấp quốc gia và 16 khu bảo tồn biển cấp tỉnh, với tổng diện tích vùng biển được khoanh vùng bảo tồn khoảng 463.587ha, chiếm khoảng 0,463% diện tích tự nhiên vùng biển quốc gia thuộc quyền tài phán của Việt Nam.
Theo báo cáo, mục tiêu quy hoạch hệ thống khu bảo tồn biển Việt Nam đến năm 2030 gồm 11 khu bảo tồn biển cấp quốc gia và 16 khu bảo tồn biển cấp tỉnh, với tổng diện tích vùng biển được khoanh vùng bảo tồn khoảng 463.587ha, chiếm khoảng 0,463% diện tích tự nhiên vùng biển quốc gia thuộc quyền tài phán của Việt Nam.
Khu bảo tồn biển Cô Tô – Đảo Trần rộng hơn 18.400ha. Ảnh: ST
Trong số 11 khu bảo tồn biển cấp quốc gia, nhiều khu đang được triển khai dự án thành lập hoặc điều chỉnh như Vịnh Hạ Long, Bái Tử Long, Cát Bà – Long Châu, Bạch Long Vỹ hay Vịnh Nha Trang. Một số khu khác đã được xác định gồm Núi Chúa, Côn Đảo, Song Tử, Nam Yết và Thuyền Chài. Ở cấp tỉnh, quy hoạch xác định 16 khu bảo tồn biển trải dài từ Quảng Ninh đến Kiên Giang như Cô Tô – Đảo Trần, Cồn Cỏ, Cù Lao Chàm, Lý Sơn, Hòn Cau, Phú Quốc hay Nam Du – Hòn Sơn.
Hiện nay, Việt Nam đã có 7 khu bảo tồn biển được thành lập theo pháp luật thủy sản gồm Bạch Long Vỹ, Cô Tô – Đảo Trần, Lý Sơn, Cồn Cỏ, Hòn Cau, Cà Mau và Phú Quốc. Đồng thời, có thêm 5 khu vực biển được quản lý trong các vườn quốc gia và khu bảo tồn thiên nhiên gồm Vườn quốc gia Núi Chúa, Côn Đảo, Cù Lao Chàm, Bái Tử Long và Cát Bà. Tổng diện tích vùng biển được khoanh vùng bảo tồn hiện đạt khoảng 215.191ha, tương đương khoảng 46,44% mục tiêu diện tích bảo tồn biển đến năm 2030.
Ông Nguyễn Quang Hùng, Phó Cục trưởng Cục Thủy sản và Kiểm ngư nhận định: “Hệ sinh thái biển và ven biển không chỉ là nền tảng duy trì đa dạng sinh học mà còn là nơi cư trú, sinh sản của nhiều loài thủy sinh quý hiếm. Việc bảo tồn các hệ sinh thái này, thông qua phát triển hiệu quả hệ thống khu bảo tồn biển, chính là giải pháp then chốt để bảo vệ các loài, phục hồi nguồn lợi và bảo đảm phát triển kinh tế biển bền vững trong dài hạn”.
Theo ông Hùng, trong bối cảnh nguồn lợi thủy sản suy giảm, ô nhiễm môi trường biển gia tăng và biến đổi khí hậu ngày càng tác động mạnh đến hệ sinh thái ven biển, việc tăng cường hiệu quả quản lý các khu bảo tồn biển có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với phát triển kinh tế biển xanh và sinh kế lâu dài của cộng đồng ngư dân.
Hiện nay, Việt Nam đã có 7 khu bảo tồn biển được thành lập theo pháp luật thủy sản gồm Bạch Long Vỹ, Cô Tô – Đảo Trần, Lý Sơn, Cồn Cỏ, Hòn Cau, Cà Mau và Phú Quốc. Đồng thời, có thêm 5 khu vực biển được quản lý trong các vườn quốc gia và khu bảo tồn thiên nhiên gồm Vườn quốc gia Núi Chúa, Côn Đảo, Cù Lao Chàm, Bái Tử Long và Cát Bà. Tổng diện tích vùng biển được khoanh vùng bảo tồn hiện đạt khoảng 215.191ha, tương đương khoảng 46,44% mục tiêu diện tích bảo tồn biển đến năm 2030.
Ông Nguyễn Quang Hùng, Phó Cục trưởng Cục Thủy sản và Kiểm ngư nhận định: “Hệ sinh thái biển và ven biển không chỉ là nền tảng duy trì đa dạng sinh học mà còn là nơi cư trú, sinh sản của nhiều loài thủy sinh quý hiếm. Việc bảo tồn các hệ sinh thái này, thông qua phát triển hiệu quả hệ thống khu bảo tồn biển, chính là giải pháp then chốt để bảo vệ các loài, phục hồi nguồn lợi và bảo đảm phát triển kinh tế biển bền vững trong dài hạn”.
Theo ông Hùng, trong bối cảnh nguồn lợi thủy sản suy giảm, ô nhiễm môi trường biển gia tăng và biến đổi khí hậu ngày càng tác động mạnh đến hệ sinh thái ven biển, việc tăng cường hiệu quả quản lý các khu bảo tồn biển có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với phát triển kinh tế biển xanh và sinh kế lâu dài của cộng đồng ngư dân.
Nhiều “nút thắt” cần được tháo gỡ
Bên cạnh những kết quả tích cực, Cục Thủy sản và Kiểm ngư cũng chỉ rõ nhiều tồn tại, hạn chế trong quá trình triển khai quy hoạch khu bảo tồn biển. Nổi bật là tình trạng suy giảm nguồn lợi thủy sản, hệ sinh thái biển bị tác động mạnh; ô nhiễm môi trường biển; vi phạm pháp luật trong các khu bảo tồn biển còn diễn ra; nguồn nhân lực cho công tác bảo tồn chưa đáp ứng yêu cầu quản lý; tổ chức bộ máy quản lý chưa thống nhất, đồng bộ. Ngoài ra, việc thiếu định mức kinh tế kỹ thuật cho phục hồi san hô, cỏ biển, thiếu biên chế và nguồn đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng cũng đang là những “nút thắt” lớn.
Chia sẻ kinh nghiệm thực tiễn trong thành lập và quản lý khu bảo tồn biển, đại diện Sở Nông nghiệp và Môi trường Quảng Ninh cho biết, tỉnh xác định, đánh giá khoa học là nền tảng quan trọng trong thành lập khu bảo tồn biển. Ranh giới và các phân khu chức năng được xây dựng trên cơ sở khảo sát đa dạng sinh học, rạn san hô, thảm cỏ biển và bãi đẻ tự nhiên của các loài thủy sinh.
Đặc biệt, địa phương coi sự đồng thuận của cộng đồng là “chìa khóa” quyết định thành công. Trong quá trình triển khai dự án thành lập Khu bảo tồn biển Cô Tô – Đảo Trần, Sở Nông nghiệp và Môi trường đã tổ chức đối thoại trực tiếp với các hộ dân nuôi trồng, khai thác thủy sản trong vùng dự kiến bảo tồn. Kết quả, 100% hộ dân trong khu vực dự án đồng ý và ủng hộ phương án thành lập khu bảo tồn biển. Tỉnh lựa chọn mô hình giao Ban Quản lý Di sản thế giới Vịnh Hạ Long – Yên Tử quản lý khu bảo tồn biển nhằm tận dụng nguồn nhân lực, cơ sở vật chất, phương tiện tuần tra kiểm soát và cơ chế tự chủ tài chính sẵn có.
Trong khi đó, tại Quảng Ngãi, việc điều chỉnh ranh giới và diện tích Khu bảo tồn biển Lý Sơn được xem là bước đi cần thiết nhằm hài hòa giữa yêu cầu bảo tồn với nhu cầu phát triển kinh tế biển, du lịch và quốc phòng – an ninh.
Theo báo cáo của Ban Quản lý Khu bảo tồn biển Lý Sơn, khu bảo tồn được thành lập từ năm 2016 với tổng diện tích 9.613ha. Tuy nhiên, trước yêu cầu phát triển mới, địa phương đã triển khai điều chỉnh quy hoạch theo hướng phù hợp với Quy hoạch bảo vệ và khai thác nguồn lợi thủy sản thời kỳ 2021 – 2030, tầm nhìn đến năm 2050 và Quy hoạch chung xây dựng Khu kinh tế Dung Quất đến năm 2045.
Sau điều chỉnh, tổng diện tích Khu bảo tồn biển Lý Sơn còn 8.100ha. Các phân khu chức năng được bố trí lại hợp lý hơn nhằm tăng hiệu quả quản lý và giảm xung đột với nhu cầu phát triển không gian biển của địa phương. Đáng chú ý, quá trình lấy ý kiến cộng đồng được triển khai tại 6 thôn trên địa bàn đặc khu Lý Sơn với kết quả 100% ý kiến đồng thuận với phương án điều chỉnh.
Từ thực tiễn triển khai, đại diện Ban Quản lý Khu bảo tồn biển Lý Sơn Lý Sơn đề xuất, cần đồng bộ quy hoạch khu bảo tồn với quy hoạch phát triển kinh tế – xã hội; tăng cường dữ liệu khoa học; bổ sung kinh phí cho điều tra, tuần tra, cắm phao và xây dựng hạ tầng quản lý; đồng thời đẩy mạnh chuyển đổi sinh kế cho ngư dân thông qua du lịch cộng đồng và nuôi biển bền vững.
Để hoàn thành mục tiêu đến năm 2030, Phó Cục trưởng Nguyễn Quang Hùng nêu rõ, giai đoạn tới, Cục Thủy sản và Kiểm ngư sẽ tập trung triển khai các nhiệm vụ trọng tâm như thành lập mới các khu bảo tồn biển; điều chỉnh ranh giới, diện tích các khu bảo tồn; triển khai đề án thí điểm giao tổ chức ngoài công lập quản lý khu bảo tồn biển; ban hành bộ chỉ số đánh giá hiệu quả quản lý khu bảo tồn biển; đầu tư cơ sở hạ tầng; xây dựng các trung tâm cứu hộ thú biển, rùa biển; phục hồi san hô, cỏ biển, rừng ngập mặn và đào tạo nâng cao năng lực cho đội ngũ quản lý.
Trong bối cảnh Việt Nam đang thúc đẩy chiến lược phát triển kinh tế biển bền vững, các khu bảo tồn biển không chỉ mang ý nghĩa bảo tồn đa dạng sinh học mà còn đóng vai trò quan trọng trong phục hồi nguồn lợi thủy sản, phát triển du lịch sinh thái, bảo vệ sinh kế cộng đồng và tăng khả năng chống chịu trước biến đổi khí hậu.
Chia sẻ kinh nghiệm thực tiễn trong thành lập và quản lý khu bảo tồn biển, đại diện Sở Nông nghiệp và Môi trường Quảng Ninh cho biết, tỉnh xác định, đánh giá khoa học là nền tảng quan trọng trong thành lập khu bảo tồn biển. Ranh giới và các phân khu chức năng được xây dựng trên cơ sở khảo sát đa dạng sinh học, rạn san hô, thảm cỏ biển và bãi đẻ tự nhiên của các loài thủy sinh.
Đặc biệt, địa phương coi sự đồng thuận của cộng đồng là “chìa khóa” quyết định thành công. Trong quá trình triển khai dự án thành lập Khu bảo tồn biển Cô Tô – Đảo Trần, Sở Nông nghiệp và Môi trường đã tổ chức đối thoại trực tiếp với các hộ dân nuôi trồng, khai thác thủy sản trong vùng dự kiến bảo tồn. Kết quả, 100% hộ dân trong khu vực dự án đồng ý và ủng hộ phương án thành lập khu bảo tồn biển. Tỉnh lựa chọn mô hình giao Ban Quản lý Di sản thế giới Vịnh Hạ Long – Yên Tử quản lý khu bảo tồn biển nhằm tận dụng nguồn nhân lực, cơ sở vật chất, phương tiện tuần tra kiểm soát và cơ chế tự chủ tài chính sẵn có.
Trong khi đó, tại Quảng Ngãi, việc điều chỉnh ranh giới và diện tích Khu bảo tồn biển Lý Sơn được xem là bước đi cần thiết nhằm hài hòa giữa yêu cầu bảo tồn với nhu cầu phát triển kinh tế biển, du lịch và quốc phòng – an ninh.
Theo báo cáo của Ban Quản lý Khu bảo tồn biển Lý Sơn, khu bảo tồn được thành lập từ năm 2016 với tổng diện tích 9.613ha. Tuy nhiên, trước yêu cầu phát triển mới, địa phương đã triển khai điều chỉnh quy hoạch theo hướng phù hợp với Quy hoạch bảo vệ và khai thác nguồn lợi thủy sản thời kỳ 2021 – 2030, tầm nhìn đến năm 2050 và Quy hoạch chung xây dựng Khu kinh tế Dung Quất đến năm 2045.
Sau điều chỉnh, tổng diện tích Khu bảo tồn biển Lý Sơn còn 8.100ha. Các phân khu chức năng được bố trí lại hợp lý hơn nhằm tăng hiệu quả quản lý và giảm xung đột với nhu cầu phát triển không gian biển của địa phương. Đáng chú ý, quá trình lấy ý kiến cộng đồng được triển khai tại 6 thôn trên địa bàn đặc khu Lý Sơn với kết quả 100% ý kiến đồng thuận với phương án điều chỉnh.
Từ thực tiễn triển khai, đại diện Ban Quản lý Khu bảo tồn biển Lý Sơn Lý Sơn đề xuất, cần đồng bộ quy hoạch khu bảo tồn với quy hoạch phát triển kinh tế – xã hội; tăng cường dữ liệu khoa học; bổ sung kinh phí cho điều tra, tuần tra, cắm phao và xây dựng hạ tầng quản lý; đồng thời đẩy mạnh chuyển đổi sinh kế cho ngư dân thông qua du lịch cộng đồng và nuôi biển bền vững.
Để hoàn thành mục tiêu đến năm 2030, Phó Cục trưởng Nguyễn Quang Hùng nêu rõ, giai đoạn tới, Cục Thủy sản và Kiểm ngư sẽ tập trung triển khai các nhiệm vụ trọng tâm như thành lập mới các khu bảo tồn biển; điều chỉnh ranh giới, diện tích các khu bảo tồn; triển khai đề án thí điểm giao tổ chức ngoài công lập quản lý khu bảo tồn biển; ban hành bộ chỉ số đánh giá hiệu quả quản lý khu bảo tồn biển; đầu tư cơ sở hạ tầng; xây dựng các trung tâm cứu hộ thú biển, rùa biển; phục hồi san hô, cỏ biển, rừng ngập mặn và đào tạo nâng cao năng lực cho đội ngũ quản lý.
Trong bối cảnh Việt Nam đang thúc đẩy chiến lược phát triển kinh tế biển bền vững, các khu bảo tồn biển không chỉ mang ý nghĩa bảo tồn đa dạng sinh học mà còn đóng vai trò quan trọng trong phục hồi nguồn lợi thủy sản, phát triển du lịch sinh thái, bảo vệ sinh kế cộng đồng và tăng khả năng chống chịu trước biến đổi khí hậu.
Thùy Khánh
The post Gỡ “nút thắt” để mở rộng và quản lý hiệu quả khu bảo tồn biển Việt Nam appeared first on Tạp chí Thủy sản Việt Nam.
Xem tiếp...



